Suy ngẫm 30 tháng Tư
Hãy làm cho ngày 30 tháng Tư trở thành Ngày tưởng niệm, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc không chỉ với bản thân chúng ta hôm nay, mà cả với con cháu chúng ta sau này.
Cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng Tư trong tôi dội lên những cảm nghĩ đan xen…
Có lẽ cảm giác mạnh mẽ nhất trong lòng mỗi người dân đất Việt vào ngày 30 tháng Tư năm ấy là nỗi mừng, một nỗi mừng rất nặng, rất sâu khiến người ta thở ra một hơi rất dài rồi lặng đi không nói nên lời, giống như nỗi mừng khi người thân nhất của ta tỉnh dậy sau một cuộc đại phẫu thuật kéo dài lành rất ít dữ rất nhièu. Tôi muốn nhấn mạnh là, bất kì người Việt nào, không kể vốn thuộc bên này hay bên kia chiến tuyến, miễn là người yêu đất nước mình, yêu thương gia đình mình, chắc chắn vào ngày hôm đó đều rất mừng: mừng vì thế là không còn chiến tranh, không còn bom đạn, không còn máu đổ đầu rơi ; mừng vì thế là hết cảnh Bắc Nam chia cắt, hết cảnh huynh đệ tương tàn, hết cảnh gia đình ly tán; mừng vì từ nay được sống trong Hoà Bình. Ngày ấy mọi người nói: Hoà Bình ăn cháo cũng sướng ! Với rất nhiều gia đình, trong đó có gia đình tôi , ngày 30 tháng Tư còn nhắc về một nỗi buồn, nỗi buồn mất mát. Cha tôi và anh cả của tôi sẽ không bao giờ trở về. Trên mảnh đất hình chữ S này biết bao nhiêu người ra đi mà không bao giờ trở về ! Biết bao nhiêu gia đình giống gia đình tôi, thậm chí còn mất mát nhiều hơn nữa. Nếu như nỗi mừng dù rất lớn vẫn luôn nhanh chóng bị thay thế bởi những lo toan đời thường, thì nỗi buồn cứ ngấm mãi theo năm tháng. Nếu như với tôi mất mát là không được gặp lại Cha và Anh, thì với các con của tôi là chưa và sẽ không bao giờ được thấy mặt Ông và Bác. Rồi đến con của các con tôi ! Nỗi buồn xuyên qua thế hệ. Và ngay cả rất nhiều các Anh, các Chị, tuy đã trở về nhưng sự sống sẽ kế tục ra sao khi không còn khả năng làm cha, làm mẹ, hoặc tuy còn, nhưng không thể sinh được những đứa con lành lặn. Nỗi buồn làm khô mắt các bà mẹ cô đơn. Nỗi buồn thắt tim mỗi khi ta gặp các cháu bé khuyết tật. Chiến tranh đã qua đi, nhưng hậu quả của nó vẫn hàng ngày hiện hữu. Anh của tôi mất trong một cuộc hành quân qua sông. Nấm mồ của Anh trong nghĩa trang Liệt sĩ chỉ là nấm mồ tượng trưng, không hài cốt. Có bao nhiêu các Bác, các Anh, các Chị đã vĩnh viễn ra đi không dấu vết, thậm chí không có cả “nấm mồ tượng trưng” ! Có bao nhiêu dân lành vốn chỉ quen hay lam hay làm đã chết vì bom đạn, một cách vô tình hay hữu ý, chêt vì hận thù mù quáng, chết vì đói không có gì ăn, chết vì bệnh không có thuốc, chết giữa đường, giữa chợ, giữa rừng, giữa biển, chết không ai biết, mà tất cả là do chiến tranh, do chia cắt. Hàng trăm ngàn linh hồn đã mấy chục năm nay vật vờ, lang thang, cô đơn, lạnh lẽo. Những cơn gió chiều chiều cuộn xoáy, hú dài như tiếng người gọi từ khoảng rừng thưa, nơi đã từng xảy ra vụ thảm sát B52 ngày ấy. Một đốm lân tinh nhỏ nhoi bên đường, nơi một nấm mồ vô chủ. Nếu như hậu quả chiến tranh vẫn đang hàng ngày hiện hữu trong thế giới chúng ta thì trong thế giới linh hồn hẳn là nó còn nhức nhối hơn rât nhiều. Các linh hồn đang cần được hoà hợp, đang cần được giải thoát.
Xe tăng quân giải phóng tiến về Sài Gòn sáng 30 - 4 - 1975
Nhớ lại ngày lễ Chiến thắng, ngày 9 tháng Năm, ở Liên xô cũ. Suốt 9 năm sống ở Leningrad (nay là St.Petersburg), ngày 9 tháng Năm nào cũng vậy, chúng tôi nhập vào dòng người đổ về nghĩa trang thành phố. Tôi không rõ ở Leningrad có nghĩa trang Liệt sĩ hay không, chỉ biết là mọi người đều đổ về đây và đây là nghĩa trang của tất cả những ai đã ngã xuống trong cuộc chiến chống phát xít Đức 1941-1945, mà chủ yếu là khoảng 2 triệu công dân của thành phố đã chết vì đói và rét trong gần hai năm bị Đức phong toả. Mọi người lặng lẽ đi dọc theo những nấm mộ chung rất lớn, đặt hoa tưởng niệm và trước khi ra về bỏ mấy đồng xu vào bể nước hình tròn nơi cạnh cổng. Thế chiến thứ hai tàn khốc như vậy, hẳn là vào ngày Chiến thắng, 9 tháng Năm 1945, nỗi mừng của mỗi người dân Xô viết phải là to lớn không gì so sánh được. Nhưng, cũng như các nỗi mừng khác nó nhanh chóng đi vào lịch sử. Chỉ có đoàn người là vẫn hàng năm lặng lẽ đặt hoa lên những nấm mồ nơi nghĩa trang thành phố với nỗi buồn chưa bao giờ vơi.

Kỷ niệm 63 năm ngày vòng vây Leningrad kết thúc.
Gần đây nghe tin ở một số thành phố phía nam các Nhà sư làm lễ cầu siêu, tôi thấy như lòng mình phần nào nhẹ bớt. Cầu cho các linh hồn lang thang siêu thoát để cho Quốc thái Dân an. Đặt bó hoa lên nấm mồ chung tưởng nhớ những người đã khuất hay chắp tay cầu cho các linh hồn siêu thoát, hai việc làm tuy khác nhau về hình thức, nhưng mang trong mình cùng một nội dung. Tôi không nhớ, sau 30 tháng Tư 1975 nước ta đã bao giờ làm đại quốc tang để tưởng nhớ hàng triệu người đã mất trong mấy chục năm chiến tranh. Nếu chưa, thì đó là một việc nên làm và rất cần phải làm. Sắp tới, noi gương các thành phố phía nam, chắc chắn Lễ cầu siêu sẽ đựơc cử hành ở nhiều nơi trong cả nước, để không còn linh hồn nào phải vật vờ, lang thang lạnh lẽo. Chúng ta, những người đang sống đã biết tỉnh táo cởi bỏ hận thù, khép lại quá khứ, hướng tới hoà hợp, hướng tới tương lai, thì chúng ta cũng cầu mong cho thế giới linh hồn những điều tốt đẹp đó, cầu cho tất cả các linh hồn Việt được về yên nghỉ nơi Cực Lạc, cầu cho đất nước ta, cả thực tại lẫn tâm linh, đừng bao giờ có chiến tranh, đừng bao giờ bị chia cắt, không có ai thắng ai thua, để nỗi buồn không còn nơi trú ẩn.
Hãy làm cho ngày 30 tháng Tư trở thành Ngày tưởng niệm, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc không chỉ với bản thân chúng ta hôm nay, mà cả với con cháu chúng ta sau này.
Nguyễn Văn Liễn
(Theo Vietnamnet)