vietnam   english

MỘT GEKIGA TUYỆT VỜI VỀ RICHARD FEYNMAN


Nhân hai cuốn sách rất hay về Feynman – một trong số ít các nhà vật lý lỗi lạc nhất thế kỷ XX, vừa mới xuất bản ở Mỹ, Freeman Dyson – một nhà vật lý nổi tiếng ở tuổi 87, người đã từng nhiều năm quen biết và cộng tác với R. Feynman – đã viết một bài giới thiệu tuyệt vời đăng trên tạp chí điểm sách The New York Review of Books. Thấy hay, tôi dịch để gửi cho các bạn quan tâm cùng thưởng thức.

 http://khoahocvakhampha.com.vn/Portals/khoahocvakhampha/dichgia_PhamVanThieu/Richard%20feyman%20%281985%29.jpg 

 

         Richard Feynman  (khoảng năm 1985)

Trong khoảng trăm năm trở lại đây, từ khi phát thanh và truyền hình đã tạo ra một nền công nghiệp giải trí đại chúng rộng khắp toàn thế giới hiện đại, đã có hai siêu sao khoa học, đó là Albert Einstein và Stephen Hawking. Những ngôi sao không được sáng bằng như Carl Sagan, Neil Tyson và Richard Dawkin[1][1] cũng đã có một công chúng lớn hâm mộ, nhưng họ không được xếp trong cùng một thứ hạng với Einstein và Hawking. Sagan, Tyson và Dawkin có những fan hiểu được những thông điệp của họ và rất hâm mộ khoa học của họ. Nhưng Einstein và Hawking thì lại có những fan hầu như không hiểu gì về khoa học nhưng lại vô cùng hâm mộ về nhân cách của họ.

Xét trên tổng thể thì công chúng rất có “gu” trong việc lựa chọn những thần tượng của mình. Einstein và Hawking có được địa vị của các siêu sao không chỉ bởi những phát minh khoa học của họ mà còn bởi các những phẩm chất nhân văn của họ. Cả hai người đều dễ dàng thích hợp với vai trò của một thần tượng, đáp ứng được sự ngưỡng mộ của công chúng bởi sự khiêm tốn, óc hài hước và những phát biểu đầy tính khiêu khích đã được tính toán để thu hút sự chú ý. Cả hai người đều hiến dâng cả cuộc đời mình cho cuộc chiến đấu không khoan nhượng để thâm nhập vào những bí mật sâu kín nhất của tự nhiên, và cả hai họ đều dành thời gian quan tâm về những mối lo lắng rất thực tiễn của những con người bình thường. Công chúng đã đánh giá một cách công tâm họ là những người anh hùng, là những người bạn của nhân loại cũng như là những bậc thầy về khoa học.

Hai cuốn về Feynman vừa mới xuất bản đây đã đặt ra câu hỏi liệu ông có được xếp vào hạng những siêu sao hay không. Hai cuốn sách rất khác nhau về phong cách và chất liệu. Cuốn sách Người lượng tử: cuộc đời khoa học  của Richard Feynman của Lawrence Krauss kể về cuộc đời của Feynman với tư cách một nhà khoa học, nó hơi coi nhẹ những chuyện phiêu lưu cá nhân của ông vốn thường được nhấn mạnh trong các cuốn tiểu sử trước đó. Krauss đã thành công trong việc giải thích bằng một thứ ngôn ngữ phi chuyên môn cái cốt lõi căn bản trong tư duy của Feynman. Không giống như bất cứ nhà viết tiểu sử nào khác của Feynman, ông đã đưa bạn đọc vào trong đầu của Feynman và dựng lại hình ảnh của tự nhiên mà Feynman đã nhìn thấy. Đây là loại lịch sử khoa học kiểu mới và Krauss chính là người có đầy đủ phẩm chất để viết nó: ông vốn là một chuyên gia vật lý và là một nhà văn tài năng chuyên viết sách khoa học đai chúng. Người lượng tử cho chúng ta thấy cái phía ẩn khuất trong nhân cách của Feynman thường ít được thấy nhất đối với những người ngưỡng mộ ông, một cái máy tính thầm lặng và kiên nhẫn làm việc căng thẳng trong suốt nhiều ngày đêm để hình dung cho được tự nhiên đã vận hành như thế nào.

Quyển sách thứ hai của nhà văn Jim Ottaviani và họa sĩ Leland Myrick lại rất khác. Đây là cuốn tiểu sử theo kiểu truyện tranh về Feynman, gồm 266 trang chứa những bức tranh về Feynman và những chuyện phiêu lưu đầy tính huyền thoại của ông. Trong mỗi bức tranh, những chiếc “bong bóng” vốn dùng để ghi lời thoại, thì ở đây ghi các “comment” của Feynman, phần lớn được rút ra từ những câu chuyện do ông và những người khác kể và được công bố trong các cuốn sách trước. Trước hết, chúng ta thấy Feynman như một cậu bé 5 tuổi thích lục vấn, và cậu đã học được từ cha mình sự hoài nghi trước các uy tín và thừa nhận sự ngu dốt. Ở sân chơi, cậu đã hỏi cha mình: “Tại sao quả bóng lại cứ lăn mãi thế ạ?” Cha ông trả lời: “Nguyên nhân để quả bóng cứ lăn mãi là bởi vì nó có “quán tính”. Ấy là các nhà khoa học gọi cái nguyên nhân ấy là như thế ... nhưng đó cũng mới chỉ là cái tên thôi. Không ai thực sự biết nó có nghĩa là gì.” Cha ông là người bán hàng lưu động, không được học hành gì về khoa học cả, nhưng ông hiểu giữa việc cho sự vật một cái tên và biết nó vận hành như thế nào là cả một sự khác biệt. Ông là người đã thắp lên cho con trai mình niềm đam mê suốt đời tìm biết cho được mọi thứ đã vận hành như thế nào. 

Sau những cảnh về người cha, các bức tranh tiếp sau cho thấy Feynman dần dần thay đổi như thế nào qua các vai trò một giáo sư trẻ đầy nhiệt huyết, một nghệ sĩ chơi trống trong các hội hóa trang, một người cha chu đáo, một ngời chồng đáng yêu, một người thầy khả kính, một nhà cải cách giáo dục, cho đến khi ông kết thúc cuộc đời mình như một nhà thông thái già nhăn nheo trong trận chiến cầm chắc phần thua với căn bệnh ung thư. Đối với tôi như một cú sốc khi thấy mình dường như hiện hình trên các trang sách đó, nhớ lại hồi còn là một chàng sinh viên trẻ trung đã cùng Feynman rong ruổi bốn ngày dài trên chiếc xe hơi của ông từ Cleveland đến Albuquerque, cùng sống với ông trong một vài nhà trọ khác thường và mê mẩn trong những cuộc chuyện trò đáng nhớ dường như là bất tận với ông.         

Một trong những sự cố trong cuộc đời Feynman đã bộc lộ rõ những phẩm chất nhân văn của ông, đó là phản ứng của ông đối với tin được trao giải thưởng Nobel về vật lý vào năm 1965. Khi nhận được cú điện thoại báo tin từ Stockholm ông đã có những lời đáp hơi có vẻ kiêu căng và khiếm nhã. Ông nói rằng chắc là ông sẽ từ chối, không nhận giải, vì ông rất ghét những nghi lễ hình thức và đặc biệt ghét những trình tự hành lễ phô trương có liên quan với các vị vua và hoàng hậu. Cha ông đã từ nói với ông hồi còn nhỏ: “Vua thì là cái thá gì đâu! Chẳng qua chỉ là mấy gã mặc áo hoàng bào mà thôi”. Ông thà từ chối nhận giải còn hơn là bị buộc phải ăn mặc đạo mạo và lại phải bắt tay với vua Thụy Điển.      

Nhưng sau ít ngày ông đã thay đổi ý định và chấp nhận tới nhận giải. Vừa tới Thụy Điển, ông đã làm bạn ngay với các sinh viên ở đây, những người tới chào đón ông. Tại bữa tiệc chiêu đãi sau khi ông chính thức nhận giải, ông đã có bài diễn từ ngẫu hứng, trong đó ông có lời xin lỗi về sự khiếm nhã trước đó của mình và cám ơn nhân dân Thụy Điển đã rộng lòng tha thứ vẫn trao cho ông giải thưởng.

Feynman đã rất mong mỏi sẽ được gặp Sin-Itiro Tomonaga, một nhà vật lý Nhật Bản cùng được trao giải thưởng với ông. Năm năm trước, một cách hoàn toàn độc lập, Tomanaga đã có một số phát minh giống như của Feynman, tại một nước Nhật cô lập còn đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Ông đã từng chia sẻ với Feynman không chỉ những ý tưởng về vật lý mà cả những trải nghiệm bi kịch cá nhân. Vào mùa xuân năm 1945, trong khi Feyman đang chăm sóc Arline, người vợ đầu yêu quý đang đau ốm, trong suốt những tuần cuối cùng của cuộc đời bà cho tới khi chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của bà vì bệnh la phổi, thì cũng mùa xuân ấy, Tomanaga phải ra tay cứu giúp một nhóm các sinh viên của ông sống sót trong đống tro tàn của thanh phố Tokyo trong một trận dội bom tàn phá thành phố và đã giết chết một số người còn lớn hơn các nạn nhân của quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima bốn tháng sau. Feynman và Tomonaga cùng có ba phẩm chất xuất chúng: đó là sự cứng rắn về tình cảm, sự toàn vẹn về trí tuệ và óc hài hước mạnh mẽ.

Thật không may cho Feynman là Tomonaga lại không có mặt ở Stockholm. Hai tác giả Ottaviani và Myrick của cuốn sách đã để cho Tomonaga giải thích duyên do tại sao: 

      Mặc dù tôi đã viết thư báo rằng tôi sẽ “vui lòng đến dự”, nhưng tôi vẫn do dự vì nghĩ rằng lễ trao giải tổ chức vào tháng 12 hẳn sẽ rất lạnh và lại còn phải làm những thủ tục phiền hà bắt buộc khác nên chắc sẽ rất mệt mỏi. Sau khi tôi được thông báo là người đoạt giải Nobel, nhiều người đã tới thăm mang đến tặng nhiều thùng rượu. Một hôm, chú tôi – người rất thích uống whisky – đã tình cờ ghé thăm tôi và cả hai chú cháu tôi đã vui vẻ nâng cốc chúc tụng nhau. Nhưng chúng tôi đã uống hơi quá đà và sau đó, lợi dụng cơ hội vợ tôi đi ra ngoài shopping, tôi bèn đi tắm. Ở phòng tắm không may tôi đã bị trượt ngã, gãy mất 6 cái xương sườn ... Nhờ trời vẫn còn một chút may mắn trong cái sự cố không may đó.      

Sau khi Tomonaga bình phục, ông được mời tới Luân Đôn để nhận một vinh dự cao khác cũng đòi hỏi phải có một cuộc gặp gỡ chính thức với Hoàng gia. Lần này ông không bị trượt ngã trong phòng tắm nữa, nhưng ông bắt buộc phải xuất hiện ở điện Buckingham để bắt tay Nữ Hoàng Anh. Nữ Hoàng không hề biết ông đã không đến được Stockholm, nên bà thực thà hỏi ông có cảm thấy vui khi gặp đức Vua Thụy Điển hay không. Tomonaga rất lúng túng. Ông không thể thú nhận mình đã say rượu và bị gãy tới sáu rẻ xương sườn được. Ông bèn đáp lại rằng ông rất vui đã được nói chuyện với đức Vua Thụy Điển. Sau này ông tâm sự rằng suốt đoạn đời còn lại của mình ông sẽ phải vác hai cái tội nặng trên vai, đó là đã say rượu và nói dối Nữ Hoàng Anh.

Hai mươi năm sau, khi Feynman đã đau nặng vì căn bệnh ung thư, ông vẫn tham gia một ủy ban của NASA điều tra vụ tai nạn năm 1986 của tàu con thoi Challenger. Ông miễn cưỡng nhận nhiệm vụ này, vì biết rằng nó sẽ ngốn mất phần lớn thời gian và sức lực còn lại của ông. Nhưng ông vẫn nhận vì cảm thấy có trách nhiệm phải tìm cho ra những căn nguyên gốc rễ của tai nạn và sẽ nói công khai cho dân chúng biết những phát hiện của mình. Ông đi tới Washington và phát hiện ra rằng cái mà ông chờ đợi nằm ở ngay trung tâm của bi kịch: hệ thống thứ bậc quan liêu với hai nhóm người, nhóm kỹ thuật và nhóm quản lý, sống trong hai thế giới tách biệt nhau, không hề có liên lạc với nhau. Các kỹ sư thì sống trong thế giới của những thực tế kỹ thuật, còn những người quản lý thì sống trong thế giới của những giáo điều chính trị.

Feynman đã đề nghị các thành viên của cả hai nhóm nói cho ông biết những đánh giá của họ về mức độ rủi ro dẫn đến tai họa của mỗi chuyến bay của tàu vũ trụ con thoi. Các kỹ sư thì đánh giá rằng rủi ro ở đây cỡ một tai nạn trong khoảng 100 chuyến bay. Còn các nhà quản lý thì ước tính rằng con số này là 1 rủi ro gây tai nạn trong số 100 ngàn chuyến bay. Sự khác biệt tới 1000 lần này của hai đánh giá chưa từng bao giờ được dung hòa hoặc đưa ra thảo luận một cách công khai. Nhưng những người quản lý lại chịu trách nhiệm điều hành và ra quyết định bay hay không bay dựa trên những đánh giá riêng của họ vào mức độ rủi ro. Nhưng những sự thật về kỹ thuật mà Feynman phát hiện ra đã chứng tỏ rằng những người quản lý đã sai và các kỹ sư đã đúng.

http://khoahocvakhampha.com.vn/Portals/khoahocvakhampha/dichgia_PhamVanThieu/Feynman%20nhan%20giai%20Nobel%20%281965%29.jpg 

     Feynman nhận giải Nobel (1965) 

Feynman đã có hai cơ hội để giải thích cho công chúng rõ những nguyên nhân của tai nạn. Cơ hội thứ nhất có liên quan tới những thực tế về kỹ thuật. Một cuộc họp công khai của ủy ban đã được tổ chức, với sự tham dự của giới truyền thông. Feynman đã chuẩn bị trước một cốc nước đá và mang theo một cái vành đệm kín bằng cao su được lấy từ tên lửa đẩy dùng nhiên liệu rắn của tàu con thoi. Ông nhúng mẩu cao su này vào cốc nước đá một lưc rồi lấy ra và chỉ cho mọi người thấy vòng đệm cao su đã trở nên cứng đơ. Nghĩa là chiếc vành đệm cao su này không còn có thể hoạt động như một vành đệm bịt kín khí để giữ cho khí nóng trong tên lửa thoát được ra ngoài. Vì tàu con thoi Challenger được phóng vào ngày 28 tháng giêng trong một thời tiết cực kỳ giá lạnh, nên cái thí nghiệm chứng minh nhỏ của Feynman đã chỉ ra sự trở nên cứng đơ của cái vòng đệm bịt kín rất có thể là nguyên nhân gay ra tai họa của con tàu này.       

Cơ hội thứ hai để giải thích cho công chúng có liên quan đến văn hóa của NASA. Feynman đã viết một báo cáo về tình hình văn hóa của cơ quan này như ông đã thấy, đó là sự phân chia cực kỳ nguy hiểm của cơ quan này thành hai văn hóa không có liên lạc giao lưu gì với nhau, đó là văn hóa của nhóm kỹ sư và văn hóa của nhóm quản lý. Những giáo điều chính trị của  nhóm quả lý, những kẻ tuyên bố rằng sự rủi ro nhỏ hơn cả một ngàn lần so với những gì mà thực tế kỹ thuật đã chỉ ra, chính là nguyên nhân về văn hóa của tai họa. Những giáo điều chính trị đã xuất hiện từ lịch sử lâu dài của những phát biểu công khai của giới lãnh đạo chính trị cho rằng tàu con thoi là an toàn và đủ tin cậy. Feynman đã kết thúc bản báo cáo của mình với tuyên bố đã trở thành nổi tiếng: “ Để cho một công nghệ thành công thì thực tế cần phải được ưu tiên hơn là những lời P.R, người ta không bao giờ có thể lừa dối được tự nhiên”.          

Feynman đã chiến đấu quyết liệt để những phát biểu kết luận của ông được đưa vào báo cáo chính thức của ủy ban điều tra. Chủ tịch ủy ban, ông William Rogers, là một nhà chính trị chuyên nghiệp đã từng có kinh nghiệm thâm niên trong những chuyện có liên quan với chính phủ. Rogers muốn công chúng tin rằng tại nạn Challenger chỉ là một tai họa rất không may mà thôi, chứ NASA thì hoàn toàn vô tội. Ông ta đã đấu tranh kịch liệt để loại bỏ phát biểu của Feynman ra khỏi báo cáo chính thức. Cuối cùng hai bên đã đạt được một thỏa thuận dung hòa. Phát biểu của Feynman không được đưa vào báo cáo chính thức nhưng được thêm vào cuối báo cáo như là một phụ lục với ghi chú nói rằng đây là phát biểu của cá nhân Feynman và không được sự nhất trí của ủy ban. Thật ra, sự nhân nhượng này lại mang đến cho Feynman một ưu thế. Như ông đã nhận xét vào thời đó, phụ lục này do đặt ở cuối nên đã thu hút được nhiều sự chú ý của công chúng hơn là nếu như nó là một phần của báo cáo chính thức.

Sự phơi bày một cách đầy kịch tính sự kém năng lực của NASA và những minh chứng của ông về cái vòng đệm kín đã biến ông thành một người anh hùng của công chúng. Đây là sự kiện mở đầu cho sự đăng quang là siêu sao của ông. Trước hoạt động của ông trong ủy ban Challenger, ông chỉ nổi tiếng rộng rãi trong giới có học thức với tư cách là một nhà khoa học và một con người có nhiều cá tính đặc sắc. Nhưng sau đấy, ông đã trở nên nổi tiếng trong một công chúng rộng rãi hơn rất nhiều với tư cách là một chiến sĩ thập tự chinh chiến đấu cho danh dự và tiếng nói của dân chúng trong chính phủ. Bất kỳ ai chiến đấu chống lại sự che giấu thiếu minh bạch và tham nhũng trong bất cứ bộ phận nào của chính phủ đều có thể nhìn về Feynman như một  người thủ lĩnh.

Trong cảnh cuối cùng của cuốn truyện tranh này, Feynman đi dạo trên một con đường mòn trong núi với một người bạn tên là Danny Hilis. Hilis chợt nói: “Mình rất buồn là cậu không còn sống được bao lâu nữa”. Feynman đáp: “Đúng thế, điều đó đôi khi cũng khiến mình rất phiền muộn. Nhưng không nhiều như cậu nghĩ đâu. Rồi cậu sẽ thấy, khi già như mình, cậu sẽ bắt đầu nhận ra rằng cậu đã nói biết bao điều hay ho mà cậu biết cho những người khác. Mà này, mình đánh cuộc với cậu là mình có thể chỉ cho cậu một cách về nhà tốt hơn đấy.” Và thế là Hilis bị bỏ lại một mình trong núi. Với một sự nhạy cảm đặc biệt, những hình ảnh này đã bắt được cái căn cốt trong tính cách của Feynman. Và bằng cách nào đó không biết, bức tranh này đã trở nên sinh động và cất lên được cái giọng nói đích thực của Feynman.  

Hai mươi năm trước, khi tôi thường đi trên các chuyến xe lửa ở ngoại ô Tokyo, tôi đã rất ngạc nhiên nhận thấy, một tỷ lệ lớn những người Nhật đi tàu hỏa vé tháng đều đọc sách trên tàu và một tỷ phần rất lớn sáck mà họ đọc lại là truyện tranh. Thể loại văn học truyện tranh nghiêm túc đã rất phát triển rất mạnh ở Nhật Bản rất lâu trước khi nó xuất hiện ở Phương Tây. Cuốn sách của Ottaviani – Myrick là một ví dụ tốt nhất của thể loại này mà tôi đã được xem với lời thoại bằng tiếng Anh. Một số độc giả phương Tây thường dùng từ manga của tiếng Nhật để chỉ loại văn học truyện tranh nghiêm túc. Theo một trong số những người bạn Nhật của tôi cho biết thì cách dùng đó là sai. Thực ra từ manga ở Nhật dùng để chỉ các bộ truyện tranh tầm thường. Từ đúng để chỉ loại văn học truyện tranh nghiêm túc là gekiga, nghĩa là truyện tranh vẽ dưới dạng kịch. Và cuốn sách Feynman chính là một ví dụ tuyệt vời của gekiga cho độc giả Phương Tây. 

Đầu đề cuốn sách của Krauss, Người lượng tử, đã được chọn rất hay. Đề tài trung tâm trong các công trình của Feynman với tư cách một nhà khoa học, đó là sự khám phá lối tư duy mới và cách làm mới với cơ học lượng tử. Cuốn sách đã thành công ở chỗ: không dùng tới các thuật ngữ toán học mà giải thích được Feynman đã tư duy và làm việc như thế nào. Sở dĩ có thể làm được điều này vì Feynman đã hình dung ra thế giới bằng những hình ảnh chứ không phải bằng các phương trình. Các nhà vật lý khác trong quá khứ cũng như hiện nay, thường mô tả các định luật của tự nhiên bằng các phương trình rồi sau đó giải các phương trình ấy để tìm xem những điều gì xảy ra. Feynman thường bỏ qua các phương trình và viết ra ngay các nghiệm một cách trực tiếp, khi sử dụng các hình ảnh của ông như một sự dẫn dắt. Sự bỏ qua các phương trình là đóng góp lớn nhất của ông đối với khoa học. Bằng cách bỏ qua các phương trình ông đã tạo ra được một ngôn ngữ mà phần lớn các nhà vật lý hiện đại đang nói thứ ngôn ngữ đó. Thật tình cờ là thứ ngôn ngữ do Feynman tạo ra, những người bình thường, không được đào tạo về toán học, cũng có thể hiểu được. Tất nhiên muốn dùng ngôn ngữ này để tính toán một cách định lượng thì bắt buộc phải được đào tạo, nhưng những người không được đào tạo vẫn có thể dùng nó để mô tả một cách định tính sự vận hành của tự nhiên.

Bức tranh của Feynman về thế giới bắt đầu từ ý tưởng cho rằng thế giới có hai lớp (layer), lớp cổ điển và lớp lượng tử. Cổ điển có nghĩa là tất cả những thứ thông thường. Còn lượng tử có nghĩa là những thứ kỳ quặc. Chúng ta sống ở lớp cổ điển. Tất cả những thứ mà chúng ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và đo lường được, như các viên gạch, con người và năng lượng, đều là cổ điển. Chúng ta thấy chúng nhờ các dụng cụ cổ điển như mắt, máy ảnh và chúng ta đo chúng nhờ các dụng cụ đo cổ điển như nhiệt kế, đồng hồ. Những hình ảnh mà Feynman phát minh ra để mô tả thế giới cũng là những bức tranh cổ điển của các đối tượng chuyển động trong lớp cổ điển. Nhưng thế giới thực của các nguyên tử và các hạt sơ cấp lại không phải là cổ điển. Các nguyên tử và các hạt xuất hiện trong các bức tranh của Feynman như các đối tượng cổ điển nhưng chúng thực sự tuân theo các định luật hoàn toàn khác. Cụ thể là chúng tuân theo các định luật lượng tử mà Feynman bày cho chúng ta biết mô tả như thế nào bằng cách dùng các bức tranh của ông. Thế giới các nguyên tử thuộc lớp lượng tử mà chúng ta không thể trực tiếp sờ mó được.

Sự khác biệt đầu tiên và căn bản giữa lớp cổ điển và lớp lượng tử là lớp cổ điển có công việc chủ yếu với các sự kiện còn lớp lượng tử có công việc với các xác suất. Trong những tình huống mà các định luật cổ điển còn hiệu lực thì ta có thể tiên đoán tương lai bằng cách quan sát quá khứ. Còn trong những tình huống mà các định luật lượng tử có hiệu lực thì chúng ta có thể quan sát quá khứ, nhưng không thể tiên đoán được tương lai. Trong lớp lượng tử, các sự kiện là không thể tiên đoán được. Các bức tranh của Feynman chỉ cho phép chúng ta tính được các xác suất mà các tương lai thay thế nhau có thể xảy ra.

Lớp lượng tử liên hệ với lớp cổ điển theo hai cách. Thứ nhất, trạng thái của lớp lượng tử là cái được gọi là “tổng theo các lịch sử”, tức là sự tổ hợp của   mọi lịch sử khả dĩ thuộc lớp cổ điển dẫn tới trạng thái đó. Mỗi lịch sử cổ điển khả dĩ được gán cho một biên độ lượng tử. Biên độ lượng tử, hay nói khác đi là hàm sóng, là một con số xác định sự đóng góp của lịch sử cổ điển tương ứng vào trạng thái lượng tử đang xét. Thứ hai, biên độ lượng tử nhận được từ bức tranh của lịch sử cổ điển tương ứng bằng cách tuân theo một tập hợp đơn giản các quy tắc. Các quy tắc này sẽ cho phép dịch các bức tranh trực tiếp thành con số. Phần khó khăn của tính toán là cộng cho đúng cái tổng theo các lịch sử này. Thành tựu vĩ đại của Feynman là đã chứng tỏ được quan điểm lấy tổng theo các lịch sử này về thế giới lượng tử đã tái tạo lại được tất cả các kết quả đã biết của lý thuyết lượng tử và cho phép mô tả một cách chính xác các quá trình lượng tử trong những tình huống mà các phiên bản trước kia của lý thuyết lượng tử đã thất bại.   

Feynman là con người rất triệt để trong chuyện thiếu tôn kính đối với các uy tín, nhưng ông lại khá bảo thủ trong khoa học của mình. Khi còn trẻ, ông đã hy vọng mình sẽ bắt đầu một cuộc cách mạng trong khoa học, nhưng tự nhiên lại nói không. Tự nhiên đã nói với ông rằng cánh rừng rậm của những ý tưởng khoa học hiện có, với thế giới cổ điển và thế giới lượng tử được mô tả bởi những quy luật rất khác nhau, về cơ bản đã là đúng rồi. Feynman đã cố gắng phát hiện những định luật mới của tư nhiên, nhưng kết quả những nỗ lực của ông, xét cho cùng, chỉ làm củng cố, làm vững chắc thêm những định luật hiện có trong một cấu trúc mới mà thôi. Ông hy vọng sẽ tìm ra những điều trái ngược chứng tỏ những lý thuyết cũ là sai, nhưng tự nhiên vẫn ương ngạnh khăng khăng chứng tỏ rằng những lý thuyết ấy là đúng. Tuy nhiên, mặc dù ông có thể tỏ ra bất kính đối với những nhà khoa học già nổi tiếng, nhưng không bao giờ là bất kính đối với tự nhiên.

Vào những năm cuối đời, quan điểm bảo thủ của Feynman về khoa học lượng tử đã trở nên lỗi mốt. Các nhà lý thuyết thời thượng bác bỏ bức tranh nhị nguyên luận của ông về tự nhiên, với thế giới cổ điển và thế giới lượng tự tồn tại song song bên cạnh nhau. Họ tin rằng chỉ có thế giới lượng tử là thực, còn thế giới cổ điển phải được giải thích như là một loại ảo giác xuất hiện từ các quá trình lượng tử. Họ cũng không nhất trí với cách mà các định luật lượng tử cần được giải thích. Vấn đề cơ bản của họ là phải giải thích cho được là làm thế nào mà thế giới lượng tử của những xác suất lại có thể sinh ra những ảo giác có tính tất định cổ điển mà mỗi chúng ta đều trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.  Những giải thích khác nhau của họ về lý thuyết lượng tử đã dẫn đến những tư biện triết học cạnh tranh nhau về vai trò của người quan sát trong mô tả tự nhiên.

 

Feynman không có đủ kiên nhẫn lắng nghe những tư biện đó. Ông khẳng định tự nhiên nói với chúng ta rằng cả thế giới lượng tử lẫn thế giới cổ điển đều tồn tại và đều là thực cả. Chỉ có điều chúng ta còn chưa hiểu được một cách chính xác chúng đã lắp ghép với nhau như thế nào mà thôi. Theo Feynman con đường tìm hiểu tự nhiên không phải là đi tranh cãi về triết học mà là phải tiếp tục khám phá những sự thật về tự nhiên. Trong những năm gần đây, một thế hệ mới các nhà thực nghiệm tiến bước theo con đường của Feynman đã đạt được những thành công to lớn, khi họ đi vào những thế giới lượng tử mới – đó là thế giới của tính toán lượng tử và mật mã lượng tử.     

Krauss đã cho chúng ta thấy bức chân dung của một nhà khoa học không ích kỷ một cách lạ thường. Sự coi nhẹ những vinh danh và các giải thưởng của ông là rất chân thành. Sau khi được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ, ông đã xin từ bỏ danh hiệu này vì các thành viên của Viện Hàn lâm đã mất quá nhiều thời gian để bàn cãi về chuyện ai sẽ đáng được chọn vào Viện trong cuộc bầu cử tới. Ông cho rằng các viện sĩ chỉ lo chuyện vinh danh bản thân mình hơn là phục vụ công chúng. Ông căm ghét mọi thứ tôn ty thứ bậc, và ông không muốn có một sự phân cách do địa vị cao siêu của một viện sĩ được dựng lên giữa ông và những người bạn trẻ hơn. Ông coi khoa học là một sự nghiệp tập thể trong đó việc giáo dục những người trẻ cũng quan trọng không kém những phát minh của cá nhân. Những nỗ lực mà ông dành cho giảng dạy cũng nhiều không kém so với những nỗ lực ông dành cho tư duy khoa học.

Feynman không bao giờ tỏ ra bực bội mỗi khi tôi công bố một số các ý tưởng của ông trước khi ông kịp làm. Ông nói với tôi rằng ông tránh tranh cãi về  quyền đăng trước trong khoa học bởi ông theo một quy tắc đơn giản: “ Thôi thì xí cho những kẻ xấu xa đó cái danh tiếng mà chúng không xứng đáng.” Bản thân tôi cũng theo quy tắc đó. Tôi thấy điều đó rất hiệu quả đối với việc tránh cãi cọ và kết bạn. Sự chia sẻ một cách rộng lượng uy tín và danh tiếng là con đường nhanh nhất để xây dựng một cộng đồng khoa học lành mạnh. Xét cho cùng, đóng góp vĩ đại nhất của Feynman cho khoa học không phải là một phát minh cụ thể nào.  Đóng góp của ông là đã tạo ra một cách tư duy mới tạo điều kiện cho một số đông đảo sinh viên và đồng nghiệp, trong đó có tôi, làm ra những phát minh của riêng mình.

Freeman Dyson, Phạm Văn Thiều dịch

(Theo sgtt.vn)
 


[2][1] Carl Sagan (1934-1996) – nhà vật lý thiên văn, vũ trụ học nổi tiếng người Mỹ, đã viết nhiều sách phổ biến khoa học; Neil Tyson (1958) – nhà vật lý thiên văn Mỹ, phụ trách nhiều show truyền hình về phổ biến khoa học và giáo dục; Richard Dawkin – nhà sinh học tiến hóa nổi tiếng người Anh. Ông cũng nổi tiếng về phổ biến khoa học. Cuốn sách nổi tiếng “Ảo tưởng về Chúa” xuất bản năm 2006, riêng bản tiếng Anh vào thơi ông đã bán hết hai triệu bản. Cuốn sách đã được dịch ra 31 thứ tiếng trên thế giới. 

Các tin khác
Vị trí 01
Vị trí 02
Vị trí 03
Sinh hoạt Khoa học tháng 6/2013 Một số mẩu chuyện chưa kể về Bóng đá
Sinh hoạt Khoa học tháng 5/2013  Richard P. Feynman, một trong những nhà Vật lý kiệt xuất mọi thời đại.

Sinh hoạt Khoa học tháng 3/2013 Buổi sinh hoạt đầu Xuân Quý Tỵ


  • Ngọc Vũ
    Ngọc Vũ
    Tên thật : Vũ Tuấn Ngọc
    Sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học...
  • Phạm Thu Hằng
    Phạm Thu Hằng
    Phạm Thu Hằng
    Sinh năm 1975 tại Nam Định
    Công tác tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
    ...
  • Phạm Ngọc Điệp
    Phạm Ngọc Điệp
    Sinh ra và lớn lên tại Ninh Bình, yêu thích vật lý, đạt nhiều giải thưởng cấp tỉnh và...
  • Nguyễn Dung
    Nguyễn Dung
    Thạc sĩ Ngôn ngữ học, yêu thích văn chương, đã từng đăng bài trên tạp chí Văn học Tuổi...
  • Trần Thị Mai Hiên
    Trần Thị Mai Hiên
     Sinh năm 1981, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương TP Hồ Chí Minh và Thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh tại...
  • Ngô Minh Toàn
    Ngô Minh Toàn
    Sinh năm 1979, tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh và Tiến sĩ ngành Vật Lý Sinh Học...
Tác giả Brian Greene Ngoài những công trình khoa học có giá trị về lý thuyết dây, Greene...
Mật Mã: Từ cổ điển đến lượng tử Trong lịch sử nhân loại đã xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, như hai cuộc thế...
Tác giả Silvia Arroyo Camejo Camejo không phải là con người khô cứng vì sách vở. Cô học múa ballet,...
Người bạn gái của lượng tử Mới 17 tuổi, Silvia Arroyo Camejo đã là tác giả của một cuốn sách ăn khách...
1. The scientist who‘s in love with literature
Pham Van Thieu loved writing and poetry from the moment he learnt to read. However, he wanted to be a mathematician. In the end he became a physicist. He has written 18 popular science books and is editor-in-chief of Physics and Youth Magazine.
2. Thư của GS.TSKH Đặng Vũ Minh gửi Tủ sách.
 Đây là bức thư của GS. TSKH Đặng Vũ Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam..
3. Chương trình giao lưu Khoa học và Khám phá
Tháng 11/2009, NXB Trẻ cùng nhóm chủ biên bộ sách Khoa học và khám phá tổ chức buổi giao lưu xoay quanh những nội dung khoa học hiện đại.

Nhân viên 02
Hotline: 0985 27 28 35


contact@khoahocvakhampha.com.vn
admin@khoahocvakhampha.com.vn